Giúp bậc học có cơ sở để phát triển ổn định bền vững

Thảo luận trong 'Thời Trang Mẹ Và Bé' bắt đầu bởi bomroitruc, 27/2/18.

  1. bomroitruc

    bomroitruc Active Member

    Bài viết:
    522
    Đã được thích:
    0
    Nghị định mở rộng đối tượng ăn trưa cho trẻ mẫu giáo và kinh phí hỗ trợ được tính theo % lương cơ sở, đồng thời bổ sung chế độ cho giáo viên mầm non trực tiếp dạy 2 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên ở các điểm lẻ hoặc trực tiếp dạy tăng lên tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có trẻ em là nhà máy tộc thiểu số tại các điểm lẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng cạnh tranh hoặc đặc trưng khó khăn. >> thiết bị mầm non

    [​IMG]

    Thêm cơ hội đến lớp cho trẻ mầm non thuộc hộ cận nghèo

    Trước khi có chế độ hỗ trợ ăn trưa của Nhà nước cho trẻ con thuộc diện cạnh tranh theo điều khoản tại Quyết định số 239/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg, việc huy động trẻ ra lớp là một cạnh tranh, vì cha mẹ trẻ thường có thói quen cho con lên nương cùng chứ không có điều kiện đưa trẻ tới trường.

    em bé không được chăm bẵm giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non, không được ra lớp hoặc chỉ ra lớp 1 buổi/ngày, không được cơ quan ăn trưa tại trường, vì thế, chất lượng chăm sóc, giáo dục không được bảo đảm, tỷ trọng trẻ suy dinh dưỡng cao. >> trang thiết bị mầm non

    Từ khi có chế độ cung cấp ăn trưa của Nhà nước, các cơ sở giáo dục mầm non có điều kiện để công ty ăn bán trú tại trường cho trẻ.

    Ở nhiều địa phương, cơ sở giáo dục mầm non đã huy động thêm sự đóng góp của phụ huynh và các ban ngành đoàn thể (hội đàn bà, đoàn thanh niên…) tăng gia cung ứng, trồng rau sạch, đóng góp trứng, thịt, gạo, củi, hỗ trợ ngày công nấu ăn... để nâng cao chất lượng ăn bán trú cho trẻ tại trường. Nhờ đó, tỷ trọng huy động trẻ ra lớp nâng cao rõ rệt, bảo đảm chịu khó và duy trì tốt việc học 2 buổi/ngày, tạo điều kiện để chú tâm giáo dục trẻ tốt hơn.

    chính sách này đã hoạt động thâm thúy so với việc tăng trưởng giáo dục mầm non vùng cạnh tranh, vùng núi cao, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần, tăng tỷ lệ huy động trẻ đến trường và tỷ trọng cần cù; nâng tỉ lệ trẻ được chăm nom giáo dục 2 buổi/ngày, từ đó, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.

    Khi Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg hết hiệu lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu trình Chính phủ tiếp tục duy trì hỗ trợ bữa ăn trưa cho trẻ thuộc các đối tượng này, và Nghị định số 06/2018/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 5/1/2018.

    Tại Nghị định số 06/2018/NĐ-CP đã bổ sung thêm đối tượng là trẻ con mầm non thuộc các hộ cận nghèo, là đối tượng cũng gặp số đông khó khăn khi đến lớp, để cung cấp giúp các em duy trì siêng năng, được chăm sóc, giáo dục tốt tại trường. Đồng thời, để đảm bảo bù đắp trượt giá, Nghị định số 06/2018/NĐ-CP đã tính cung cấp ăn trưa cho trẻ theo % lương cơ sở.

    Bình đẳng trong chính sách cho giáo viên mầm non dạy hợp đồng

    Cả nước hiện có trên 50.000 giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập vẫn làm việc theo cơ chế hợp đồng công trạng, chưa được tuyển dụng vào viên chức.

    Nguyên nhân của sinh tồn này là do một thời gian dài trước đây, sơ đồ trường mầm non chính yếu là loại hình bán công, gắn với hợp tác xã, người sử dung, công sở, giáo viên hưởng lương theo công điểm hoặc từ nguồn kinh phí của phụ huynh đóng góp, hoặc do công ty trực tiếp chi trả.

    Thực hiện Luật Giáo dục năm 2005, các trường mầm non bán công chuyển dần sang loại hình trường công lập và dân lập, tư thục. Khi biến đổi loại hình trường, giáo viên mầm non trong các trường công lập được tuyển dụng viên chức. Tuy nhiên, do chỉ tiêu biên chế ít, nên số lượng giáo viên được tuyển dụng còn hạn chế nên dẫn đến tình trạng giáo viên có đủ tiêu chuẩn, trình độ, làm việc tương tự như giáo viên là viên chức trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập nhưng không được hưởng các hình thức phụ cấp thâm niên, phụ cấp đứng lớp như giáo viên là viên chức.

    bởi thế, Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg đã đưa giải pháp cung cấp để đối tượng giáo viên hợp đồng công sức trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập được hưởng chế độ tương đương như giáo viên là viên chức.

    hầu hết giáo viên thuộc đối tượng này được cung cấp chế độ theo luật pháp tại Thông tư 09/TTLT-BNV-BGDĐT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cũng như tiếp tục được pháp luật tại Nghị định số 06/2018/NĐ-CP, cụ thể:

    đầu tiên là giáo viên mầm non (có cả phó hiệu trưởng) làm việc theo hình thức hợp đồng công lao trong định mức giáo viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập.

    Đối tượng trên, nếu đủ tiêu chuẩn chức danh giáo viên mầm non hạng IV (mã số V.07.02.06) trở lên thì được ký hợp đồng công huân, xếp lương ở chức danh giáo viên mầm non hạng IV (mã số V.07.02.06) theo bảng lương điều khoản tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP, Nghị định số 17/2013/NĐ-CP và được hưởng các chế độ, chế độ theo quy định hiện hành như giáo viên mầm non là viên chức trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập.

    Thời gian và bậc lương hưởng khi thực hiện cơ chế hợp đồng lao động được nối liền để xếp lương và thực hiện chính sách khi được tuyển dụng theo cách thức hợp đồng làm việc.

    Thứ hai là giáo viên mầm non (có cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đang làm việc ở các cơ sở giáo dục mầm non dân lập, tư thục. Các giáo viên này được nhà nước cung cấp tài liệu và mức giá tập huấn khi tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng tăng cao mức độ kiến thức nghiệp vụ.

    Giáo viên đang công tác tại các cơ sở mầm non tư thục được cung cấp bồi dưỡng mức độ kiến thức, nghiệp vụ như giáo viên công lập, giúp các cô vững vàng hơn về kĩ năng nghề nghiệp, từ đó, các cô tự tin công sở các hành động chú tâm, giáo dục trẻ tốt hơn.

    Mức hỗ trợ của ngân sách thực hiện theo mức cung cấp so sánh với giáo viên công lập có cùng trình độ nhập cuộc tập huấn, bồi dưỡng mức độ chuyên môn, nghiệp vụ theo pháp luật.

    hỗ trợ giáo viên vùng khó khăn học tiếng của người dân tộc thiểu số

    Để giao tiếp tốt và cung cấp thực hiện chương trình giáo dục mầm non với trẻ mọi người tộc thiểu số, giáo viên mầm non phải tự học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, trước đây chưa có hình thức cho giáo viên mầm non khi tham gia các lớp học này. Nay Nghị định số 06/2018/NĐ-CP đã bổ sung chế độ với giáo viên mầm non nhập cuộc học tiếng nói và chữ viết của công ty tộc thiểu số.

    Theo đó, giáo viên mầm non (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ em dân tộc thiểu số thuộc vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được thanh toán tiền mua tài liệu học tập (ko kể tài liệu tham khảo) tiếng nói và chữ viết của người dùng tộc thiểu số (nếu có) theo lao lý. Tiền mua tài liệu học tập (bên cạnh tài liệu tham khảo) được chi trả theo hóa đơn tài chính thực mua và được trả không quá 3 năm.

    Nghị định số 06/2018/NĐ-CP cũng đã bổ sung chế độ mới cho giáo viên mầm non trực tiếp dạy 2 buổi/ngày tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ hai độ tuổi trở lên ở các điểm lẻ hoặc trực tiếp dạy tăng tiếng Việt tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo có em bé là doanh nghiệp tộc thiểu số tại các điểm lẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non công lập ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn hoặc đặc biệt cạnh tranh theo điều khoản của Thủ tướng Chính phủ.

    cụ thể, hằng ngày được hỗ trợ thêm một khoản bằng tiền là 450.000 đồng/tháng. Thời gian hưởng hỗ trợ là 9 tháng/năm (từ tháng 9 năm trước đến hết tháng 5 của năm liền kề), tiền cung cấp được trả với việc chi trả tiền lương của tháng và không dùng tính đóng hưởng BHXH, BHYT, BHTN.

    Đời sống của giáo viên mầm non hiện còn gặp nhiều khó khăn, giáo viên chịu áp lực vì thời gian và cường độ làm việc căng thẳng, tuy nhiên, cách thức lương và các thu nhập khác chưa tương xứng với công trạng và áp lực nghề nghiệp, đặc biệt tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, các thôn/bản nằm cách xa trung tâm, điều kiện di chuyển khó khăn.

    Do điều kiện địa lý, dân cư, phải tồn tại nhiều điểm trường, số lượng trẻ từng độ tuổi ít nên phải công ty các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo ghép từ 2 đến nhiều độ tuổi, đa dân tộc. Thực tế, trong một lớp học có nhiều dân tộc (có lớp có tới 11 dân tộc) với nhiều độ tuổi khác nhau khiến giáo viên mầm non gặp nhiều khó khăn trong việc chăm bẵm, giáo dục trẻ.

    Để đảm bảo chất lượng chăm bẵm, giáo dục, giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian hơn cho công việc soạn bài, chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi; trên lớp, giáo viên phải phân nhóm, làm việc với từng nhóm trẻ khác biệt cả về dân tộc cũng như độ tuổi, thời gian làm việc kéo dài 9 đến 10 giờ/ngày chưa kể thời gian soạn bài và làm đồ dùng, đồ chơi tại nhà.

    Vì vậy, Nghị định số 06/2018/NĐ-CP là một niềm vui lớn cùng với em bé mầm non vùng cạnh tranh, vùng có đông đồng bào xí nghiệp tộc thiểu số và các cô giáo mầm non được hưởng chính sách. Đồng thời, biểu lộ sự quan tâm đặc thù của Đảng, Nhà nước với giáo dục mầm non, giúp bậc học có cơ sở để phát triển bất biến bền vững. Mùa xuân mới sắp tới, hy vọng giáo dục mầm non sẽ có nhiều khởi sắc, nhân rộng nhiều thú vui từ đây. >>> cơ sở sản xuất đồ chơi mầm non
     

 

Shop quần áo thời trang hàn quốc xách tay cao cấp giá rẻ.

Chia sẻ trang này

Chào mừng các bạn đến với diễn đàn thể thao bóng đá Việt Nam. Chúc các bạn có những giây phút thật zui zẻ!